Chào bà con cô bác. Trí đây.
Bà con theo dõi tới giờ chắc biết: tui đã dọn khỏi hẻm 404, qua Thủ Đức, ở cái dãy mới sạch sẽ, yên, và hông ai gõ cửa ai. Lương đã có, phòng đã thuê, đời tui coi như vô guồng. Chỉ còn đúng một dòng trong danh sách việc cần làm mà tui để treo hoài, treo từ hồi còn ở hẻm: về quê thăm má.
Cái dòng đó, tui treo hết hai mùa. Lần nào má cũng lên trước. Bận này tui giành đi trước má.
Sáng thứ bảy, anh Ba chở tui ra bến xe Miền Tây. Vẫn cái câu cũ: “Gói đưa người nhà về quê thì tính tiền cái gì.” Tui xuống xe, ảnh dặn với theo: “Về tới nhắn anh một cái nghen, cho anh yên bụng.” Rồi ảnh quay đầu, chạy ngược vô thành phố, bỏ tui lại với một tấm vé và một cái bụng nôn nao kỳ lạ.
Xe chạy bốn tiếng. Tật nghề nghiệp, tui bấm giờ. Qua mấy cây cầu dài hun hút, ruộng bắt đầu xanh dần ra hai bên, cái nóng Sài Gòn loãng ra thành cái nóng có mùi rơm. Tới đầu con lộ nhà tui, tui coi đồng hồ: bốn tiếng mười hai phút. Y chang hồi tui đi học xa, chuyến đầu tiên rời nhà. Có điều chuyến đó tui đi, bận này tui về.
Tui nhắn anh Ba một cái cho ảnh yên bụng: dạ con tới nơi rồi nghen anh. Ảnh thả cái tim.
Má
Má đứng chờ ngoài ngõ từ hồi nào. Thấy tui, câu đầu tiên má nói không phải “má nhớ con”, mà là: “Ốm nhom à. Trên đó hổng có ai nấu cho ăn hả con?”
Tui cười. Tui nói trên đó con tự nấu được rồi má. Má nguýt một cái, nói tự nấu cái nồi gì, rồi kéo tay tui vô nhà. Trong bếp, nồi canh chua đang sôi lục bục. Mùi me, mùi cá lóc, mùi ngò om bay ra tới cửa. Hồi hết mùa đó, lúc tiễn tui đi, má có hứa một câu: lãnh lương đầu thì về, má nấu canh chua cá lóc, lần này khỏi nhìn trần nhà nữa, về nhìn má nấu.
Hai mùa rồi. Bữa nay tui mới được đứng trong bếp, nhìn má nấu thiệt. Bao năm gọi video, má cầm điện thoại toàn chĩa lên trần nhà, tui nói hoài má cũng hông sửa, nói thôi quen tay rồi con. Cái màn hình nhỏ xíu, lại toàn quay cái bóng đèn, té ra giấu giùm má được một chuyện: nó hông cho tui thấy má già đi mau tới cỡ nào. Đứng gần vầy, tui mới thấy tóc má bạc hơn trong màn hình nhiều.
Chế độ kỹ sư
Ở hẻm, bà con hay kêu tui là kỹ sư Gu Gồ. Nghề tay trái của tui mấy năm là đi sửa đồ cho cả xóm – wifi cô Sáu, điện thoại bà Bảy, tivi chú Ba. Về tới nhà, cái phản xạ đó nó tự bật.
Tui đi một vòng. Cái quạt trần nhà má kêu rè rè – tui xiết lại con ốc, hết rè. Cái bếp ga đánh lửa ba lần mới cháy – tui thông cái đầu đốt, cháy cái một. Cái vòi nước sau hè rỉ – tui thay cái ron, khóa cái bụp. Cả buổi chiều, tui sửa gọn nhà má như sửa một cái PR nhỏ: lỗi nào thấy là fix lỗi đó, sạch sẽ.
Tui khoái lắm. Tui nghĩ bụng, vậy là mình có ích. Đứa con đi xa về, sửa cho má cái nhà, còn gì bằng.
Sửa một hồi thì cây tua vít của tui cùn, vặn trượt con ốc. Tui hỏi má, nhà mình còn đồ nghề cũ của ba hông má, cho con mượn cây tua vít tốt.
Má đang lặt rau, khựng tay một nhịp. Rồi má nói, trên gác, cái thùng gỗ, lâu rồi hông ai đụng.
Tui leo lên gác. Cái thùng đồ nghề của ba nằm trong góc, phủ một lớp bụi dày cui, cái móc sắt khóa ngoài rỉ sét gần hết. Từ hồi ba đi, chắc hông ai còn dám mở nó ra. Tui gạt bụi, bật cái móc.
Bên trên là đồ nghề: tua vít, kềm, mỏ hàn, mấy cuộn thiếc hàn – xếp ngay ngắn như ba mới xài hôm qua. Bên dưới, bọc trong một cái bao vải, là một cái radio-cassette. Loại thùng gỗ, nút bấm to, hiệu gì đó tróc hết chữ. Tui lôi ra, lật qua lật lại. Nắp sau mở sẵn, bên trong dây nhợ đi còn dở dang, có chỗ nối, có chỗ bỏ lửng, một con tụ chưa hàn nằm chơ vơ. Rõ ràng là đồ ai đó đang ráp thì ngưng ngang.
Lạ cái là bao nhiêu năm sống trong nhà này, tui chưa thấy cái radio này lần nào. Nó nằm im lìm dưới đáy thùng, dưới lớp đồ nghề của một người đã đi.
Tui ôm cái radio với cái thùng đồ nghề xuống nhà, tính khoe má con kiếm được cây tua vít xịn. Má ngước lên, thấy cái radio trên tay tui thì buông rổ rau xuống.
“Con lấy cái đó ở đâu ra?”
Tui nói dạ trong thùng đồ nghề của ba, dưới đáy. Má ngồi im một hồi lâu, lâu tới mức tui tưởng má giận. Rồi má nói, giọng khác hẳn, nhỏ xíu: “Để… để đó con. Đừng đụng vô.”
Má tui xưa giờ, cái gì hư là kêu bỏ, kêu mua cái mới, tiếc gì ba cái đồ cũ. Vậy mà cái radio xấu hoắc này má kêu đừng đụng, mà kêu bằng cái giọng run run. Tui cầm nó, đứng tần ngần. Rồi tui để xuống. Có cái gì đó trong giọng má làm tui hông dám vặn con ốc đầu tiên.
Ba
Ba tui.
Ba tui mất hồi tui học lớp sáu.
Ba tui làm thợ sửa đồ điện. Cái tiệm nhỏ xíu ngoài chợ, bảng hiệu viết tay: “Sửa radio – amply – quạt – tivi.” Người ta trong xóm hư cái gì cũng vác tới cho ba. Tui nhớ hồi nhỏ, chiều nào đi học về tui cũng ghé tiệm, ngồi cái đòn thấp kế bên ba, coi ba sửa đồ. Ba hay đưa tui cây tua vít, kêu con vặn con ốc này giùm ba. Con ốc đó ba vặn được dư sức, mà ba cứ để dành cho tui vặn. Hồi đó tui tưởng ba làm biếng. Giờ tui biết ba để dành cho tui cái cảm giác mình có ích – y chang cái cảm giác chiều nay tui có, khi sửa cái quạt cho má.
Ba tui ít nói. Có đúng một câu ba nói hoài, nói tới mức tui thuộc: “Sửa đồ hông phải sửa cái máy, con. Là sửa cái nhớ của người ta.”
Hồi lớp sáu tui đâu hiểu. Tui tưởng ba nói chữ cho oai. Mãi sau này, lúc tui thò tay ra sau lưng bàn thờ ông Địa nhà cô Sáu cắm lại cọng dây wifi – cọng dây mà tuần nào cô cũng “làm lỏng” để có cớ kêu tui qua – tui mới hiểu. Người ta đâu cần cái wifi. Người ta cần có đứa nhỏ xa nhà ghé ngồi chơi. Cái tui sửa chưa bao giờ là cái máy.
Cái tài vặn ốc của tui, cái mác kỹ sư Gu Gồ của tui, hóa ra hông phải tự nhiên mà có. Nó là đồ ba để lại. Ba để dành cho tui con ốc cuối cùng, mà ba đi trước khi tui đủ lớn để vặn.
Cuốn sổ
Tối đó ăn cơm xong, má lấy từ trong tủ ra một cuốn sổ. Bìa carton, mép sờn, bọc một lớp bao nilon y như cuốn sổ ghi nợ của cô Út ngoài hẻm – mà hồi đó tui đâu có biết hai cuốn sổ nó giống nhau tới vậy.
Má mở ra. Trong đó ba ghi tay, từng dòng: tên người, món đồ, ngày gửi. Chữ ba xấu mà ngay hàng. Má lật tới trang cuối cùng có chữ, chỉ cho tui coi. Rồi má nói, giọng tỉnh như nói chuyện thời tiết:
“Tới ngày ba con đi, còn bốn mươi bảy món người ta gửi mà chưa tới lấy.”
Tui hỏi sao kỳ vậy má, đồ sửa xong sao hông tới lấy. Má cười.
“Con nghĩ coi. Có người đồ đâu có hư. Vặn lỏng một con ốc rồi vác tới tiệm ba con, ngồi uống trà nói chuyện cả buổi, chờ ba con ‘sửa’, rồi ‘ủa sao tự nhiên nó chạy lại’. Bộ con tưởng cả xóm ai cũng hư đồ cùng lúc thiệt hả? Người ta tới vì cái tiệm có người chịu ngồi nghe. Sửa xong rồi, có người quên lấy luôn, tại cái họ cần lấy, họ lấy được rồi.”
Tui ngồi im. Bà con biết tui đang nghĩ gì hông.
Cái vở kịch mà cả hẻm 404 diễn suốt ba năm để nuôi tui – giả bộ đồ hư, kêu tui qua sửa, rồi dúi tui tờ năm chục gấp tư gọi là “tiền công” – cái vở kịch đó hông phải hẻm nghĩ ra. Hồi hết mùa hai tui đã khoe với bà con rằng đạo diễn của nó ngồi tuốt dưới Cần Thơ, chỉ đạo từ xa. Bữa nay tui mới biết: má tui hông tự nghĩ ra cái trò đó. Má học nó. Má học từ cái tiệm sửa đồ của ba, từ bốn mươi bảy món đồ hông ai tới lấy.
Ba tui dựng cái trò “giả đò hư để có cớ ngồi lại” ở một cái chợ nhỏ Cần Thơ. Mười mấy năm sau, má tui đem nguyên cái trò đó gả cho một con hẻm ở Sài Gòn, để nuôi thằng con. Tui lớn lên trong cái trò đó mà hông hề hay, y như đứa nhỏ lớn lên trong một căn nhà hông biết ai xây.
Cái radio
“Còn cái radio?” – tui hỏi. “Nó cũng là đồ khách gửi hả má?”
Má lắc đầu.
“Cái đó là của ba con ráp cho má. Ráp để má nghe cải lương. Mà ba con ráp lén, giấu tuốt dưới đáy thùng đồ nghề, tính bữa nào xong mới đem ra làm bất ngờ cho má. Trong nhà hổng ai hay, má cũng hổng hay. Ba con kín vậy đó. Ráp được nửa chừng thì ba con bệnh.”
Má ngừng một chút. Tui nghe tiếng dế ngoài vườn kêu rõ mồn một.
“Chừng nằm viện ba con mới nói má nghe là có cái radio đó. Ba con dặn đừng kêu thợ nào đụng vô. Ba con nói để đó, chừng nào thằng Trí lớn, nó học cái nghề này, nó ráp nốt cho má. Ba con tính hết rồi con à. Hồi đó con mới lớp sáu, mà ba con đã biết con sẽ theo cái nghề này.”
Tui ngồi đó, trong căn buồng có cái bóng đèn vàng mà bao nhiêu cuộc gọi video má toàn chĩa lên trển. Tui – thằng kỹ sư sửa được wifi cho cả cái hẻm, thằng được người ta kêu bằng Gu Gồ – ngồi trước một cái radio ba giấu trong thùng đồ nghề mười mấy năm trời, tại nó đang chờ đúng một người.
Người đó là tui. Ba để dành con ốc cuối cùng cho tui, lần này thiệt.
Tui lấy cái tua vít. Tay tui run, mà bà con biết đó, dân sửa đồ tay run thì làm ăn gì. Tui hít một hơi. Tui coi lại chỗ dây ba đi dở – ba đi gọn lắm, ngay hàng như chữ viết, chỉ còn thiếu cái mạch nguồn với con tụ chưa hàn. Mười mấy năm trước ba dừng ở đâu, tui đọc ra được tới đó. Giống như đọc code của một người đã nghỉ việc lâu rồi, mà comment vẫn còn, vẫn dẫn mình đi.
Tui cắm cái mỏ hàn của ba, chờ nó nóng. Tui hàn con tụ. Tui nối lại cái mạch. Tui ráp cái nắp sau, vặn con ốc cuối cùng – vặn bằng chính cây tua vít của ba.
Rồi tui cắm điện. Tui vặn cái nút to.
Nó rột rẹt một hồi, rồi bắt được đài. Một câu vọng cổ cũ, giọng cô đào nào đó ngân dài, trôi ra khỏi cái thùng gỗ, đầy căn buồng.
Má tui đang ngồi trên bộ ván, nghe cái tiếng đó thì khựng lại. Má hông khóc đâu bà con. Má chỉ ngồi im, hai tay để trên đùi, ngó cái radio như ngó một người vừa đi đâu xa lắc mới về. Mười mấy năm má chờ cái tiếng này. Người hứa ráp nó cho má thì đi rồi, mà cái tiếng thì bữa nay mới chịu ra.
Tui ngó chỗ khác. Mắt tui cay. Chắc tại hồi nãy ăn canh chua má bỏ ớt nhiều.
Tổng kết
Sáng hôm sau tui phải lên lại Sài Gòn. Má gói cho tui một giỏ đồ bự tổ chảng, khô với mắm đủ thứ, y như hồi má lên hẻm chia cho cả xóm.
Trước khi đi, tui xin má một chuyện. Tui nói má cho con mang cái radio lên trển nghe được hông. Má nhìn tui, hơi ngần ngừ. Tui biết tui đang xin một thứ lớn.
Rồi má lắc đầu, cười: “Thôi, để nó ở nhà với má. Con lên trển, lâu lâu nhớ thì gọi về, má mở cho con nghe qua điện thoại. Mà lần này má để điện thoại ngang, khỏi quay lên trần nhà nữa.”
Tui dạ. Tui hiểu rồi. Má giữ cái radio lại, hông phải để nghe cải lương. Má giữ nó để có cớ gọi tui. Y chang hồi đó người ta giữ đồ hư để có cớ ghé tiệm ba. Y chang cô Sáu làm lỏng cọng dây wifi. Cái trò này nhà tui truyền đời – ba truyền cho má, má truyền ra hẻm, giờ má xài lại nó với chính thằng con mình.
Tui xách giỏ đồ má gói, đi ra ngõ. Tui quay lại ngó căn nhà một lần. Trong buồng, cái bóng đèn vàng vẫn sáng. Kế bên nó, trên cái kệ, cái radio ba ráp dở mười mấy năm giờ đã chạy, nằm im re, chờ tới chiều má mở.
Ba tui nói đúng. Sửa đồ hông phải sửa cái máy. Là sửa cái nhớ của người ta. Có điều cái máy cuối cùng ba để lại cho tui sửa, nó hông sửa cái nhớ của khách lạ nào hết. Nó sửa cái nhớ của chính nhà tui.
Hẻm 404 – cái hẻm mà Google Maps tìm hoài hông ra – tui đi khỏi nó rồi. Mà cái nghề làm nên tui ở đó, té ra bắt đầu từ một cái tiệm nhỏ ngoài chợ Cần Thơ, từ một người ba để dành cho con trai con ốc cuối cùng, rồi đi trước khi kịp coi nó vặn.
P/S: Lúc dọn đồ ba để lại, tui có lật cuốn sổ bốn mươi bảy món. Cuối sổ, ba kê thêm một dòng nữa, chữ nguệch ngoạc hơn mấy dòng trên, chắc ba ghi hồi đã yếu: “Radio của bà xã – thợ: thằng Trí.” Ba ghi tên tui vô sổ như ghi tên một người thợ thiệt thụ, từ hồi tui mới lớp sáu, còn chưa biết con tụ là con gì. Hóa ra tui có tên trong một cuốn sổ, nằm đó chờ, y như cái tên tui chưa gạch trong sổ nợ cô Út. Nhà tui, hẻm tui, ai cũng giỏi một cái: để dành cho người ta một chỗ, rồi chờ.
– Hẻm 404, ngoại truyện. Được kể lại (và thêm mắm, mà bận này ít mắm, tại mặn sẵn rồi) bởi Code Toàn Bug.
Đọc đầy đủ tất cả truyện 404 tại:
https://learningvn.com/stories